Cập nhật lúc : Thứ tư 21/08/2013 21:42

Chi trả dịch vụ môi trường rừng

Hiện nay, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là một trong số các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa nghề rừng

Ngày 20/08/2013, tại Hà Nội, Tổng cục Lâm nghiệp, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam với sự tài trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ thông qua Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) đã tổ chức Hội thảo “Chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam – Thực tiễn và các giải pháp”.

Tham dự hội thảo có 150 đại biểu đại diện  cho các cơ quan trung ương như Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường…, đại diện các Sở NN&PTNT, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của 30 tỉnh, thành phố; đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam (CIFOR, FAO, JICA,UNDP, GIZ, Winrock International, ICRAF,…), các tổ chức phi chính phủ và các cơ  quan, đơn vị có liên quan.

Hội thảo “Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) ở Việt Nam – Thực tiễn và các giải pháp” được tổ chức là cơ hội giúp Tổng cục Lâm nghiệp , Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam nhận diện bức tranh toàn cảnh về quá trình thực thi chính sách chi trả DVMTR sau hơn 2 năm kể từ khi Nghị định 99 được ban hành và có hiệu lực; xem xét những tác động, kết quả sơ bộ ban đầu, phát hiện kịp thời các khó khăn, vướng mắc, các thách thức đang đặt ra, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, các cách làm hay trên thực tế; tham mưu cho  Bộ NN&PTNT đề xuất với Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan có các giải pháp và kế hoạch hành động  nhằm thực thi chính sách có hiệu quả trong tương lai.

Hiện nay, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là một trong số các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa nghề rừng; huy động  nguồn lực của xã hội, đặc biệt của các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) vào việc bảo vệ và phát triển rừng, gắn với việc xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào dân tộc, đồng bào nghèo ở vùng sâu  vùng xa, vùng miền núi.

Ngày 10/04/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/QĐ-TTg về chính sách thí  điểm chi trả DVMTR để triển khai thực hiện tại hai tỉnh Sơn La và Lâm Đồng đai diện cho hai khu vực có diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn lớn nhất của cả nước là Tây Bắc và Tây Nguyên. Trên cơ sở tổng kết giai đoạn thực hiện thí điểm theo Quyết định 380/QĐ-TTg, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 về chính sách chi trả DVMTR để triển khai  rộng khắp trên phạm vi toàn quốc từ ngày 01/01/2011.

Tính đến năm 2012, tổng nguồn thu từ chi trả DVMTR là 1.782 tỷ đồng. Số tiền này được chi trả cho các chủ rừng ( là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn). Hàng năm, tổng diện tích giao, khoán quản lý, bảo vệ rừng được hưởng nguồn tiền DVMTR thường đạt trên 2,3 triệu ha. Riêng năm 2012, hệ thống Quỹ BV&PTR từ Trung ương tới cấp tỉnh đã thu được 1.171 tỷ đồng (bao gồm cả truy thu nợ năm 2011), tương đương với vốn Ngân sách Trung ương cấp 1.210 tỷ đồng đầu tư thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng.

Chính sách chi trả DVMTR đã từng bước thúc đẩy tạo lập cơ chế thị trường có sự định hướng và thể hiện vai trò điều tiết của Nhà nước; thể hiện  mối quan hệ trong giao dịch hợp đồng cung ứng  và sử dụng DVMTR, giữa một bên là các chủ rừng với bên kia là các đối tượng thụ hưởng DVMTR; đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh mẽ đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xá hội ở vùng sâu, vùng xa,  vùng đồng bào dân tộc ít người. Chính sách này góp phần tạo ra công ăn, việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng. Các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán bảo vệ rừng ngoài nguồn thu nhập từ các giá trị trực tiếp rừng còn được hưởng tiền DVMTR. Tại một số địa phương, mức chi trả DVMTR bình quân cho các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân nhận giao, khoán, bảo vệ rừng rất cao (từ 300-450.000 đồng/ha/năm), nếu so sánh với mức hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước (200.000 đồng/ha/năm), tiêu biểu như các tỉnh Lâm Đồng, Lai Châu.

Tại tỉnh Lâm Đồng, hàng năm đã khoán bảo vệ rừng cho gần 10.000 hộ gia đình, trong đó có 1/3 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, bình quân mỗi hộ nhận được 10,5-12 triệu đồng/ năm, góp phần ổn định và cải thiện đời sống kinh tế cho các hộ nhận khoán BVR rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện thí điểm Quyết định 380/QĐ-TTg giảm 15% so với năm 2008, góp phần ổn định an ninh  chính trị trong khu vực. Theo báo cáo tổng kết của hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La, từ năm 2008 đến năm 2010 số vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng đã giảm hẳn đi 50%. Ngoài ra, chính sách này đã thu hút được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp chính quyền, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Thông qua việc triển khai chính sách, nhận thức chung của toàn xã hội về vai trò của rừng, giá trị của rừng và đóng góp của ngành Lâm nghiệp được từng bước nâng cao.

Mặc dù đã đạt được một số kết quả khả quan nêu trên, nhưng trong quá trình thực thi chính sách tại các địa phương vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, khó khăn như sau: Công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện, huy động hệ thống chính trị, các cấp chính quyền tại một số địa phương để triển khai chính sách còn chưa thực sự quyết liệt, thiếu sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành, chậm thành lập hệ thống quỹ BVPTR, thiếu nguồn lực và chưa hoàn thành việc rà soát xác định cụ thể ranh giới, diện tích rừng đến từng chủ rừng, dẫn tới việc chi trả cho các chủ rừng và hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn.

Tại Hội thảo, với thành phần đại biểu đa dạng đến từ nhiều cơ quan, đơn vị và tổ chức khác nhau, bằng các kiến thức, hiểu biết  và bài học kinh nghiệm từ thực tiễn, các đại biểu đã tích cực tham gia góp ý với các nội dung trình bày tại Hội thảo.Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến góp ý của các đại biểu, Hội thảo đã đưa ra các khuyến  nghị, giải pháp hữu hiệu đối với các cơ quan có thẩm quyền nhằm triển khai chính sách chi trả DVMTR thành công hơn nữa trong thời gian tới./.

Hồng Nga

Từ khóa: chính sách , bảo vệ , lâm nghiệp , nghề rừng , giao khoán , Lâm Đồng , thực tiễn , đồng bào

weatherThời tiết

Sương mù

25°C Sương mù

Các tỉnh/thành phố khác

GoldGiá vàng

Loại Mua Bán
SJC 1L 35,68 35,8
nhẫn SJC 99,99 5p,1c,2c,5c 31,93 32,23
nữ trang 99,99% 31,33 32,23

Nguồn  

ratingTỷ giá

Loại Mua Bán
USD 21.195,00 21.245,00
SGD 16.403,19 16.801,08
HKD 2.696,72 2.751,11
CHF 21.920,70 22.362,80
JPY 191,04 194,71

Theo Sacombank-SBJ