Nhật ký về Mẹ
Trong số ba ngàn Mẹ Việt Nam Anh hùng của Thủ đô Hà Nội, có hàng trăm mẹ có từ hai con trở lên là liệt sĩ. Nhiều mẹ, cả chồng, cả người con duy nhất lần lượt hy sinh cho sự trường tồn của dân tộc.
Những dòng viết dưới đây, dẫu chắt từ tâm can, nhưng cũng chỉ là những dòng trích ngang, như một đoạn ngắn trong cuốn nhật ký về đời mẹ. Bởi những mất mát, hy sinh của mẹ như "biển Thái Bình", như bầu trời đầy sao, chẳng cách nào đếm nổi. Chúng ta thật có lỗi khi không thể nào ghi hết cuộc đời của các mẹ đã khuất và các mẹ hôm nay đang sống những năm tháng cuối đời.
Anh Lê Văn Thức bị địch đày ra Côn Đảo và kết án tử hình xúc động gặp lại người mẹ thân yêu trong ngày vui chiến thắng.Ảnh: Lâm Hồng Long - TTXVN
Đã bao đời sông Hồng đỏ nặng phù sa, chảy xuôi về làm tươi tốt cho cây lúa, cây dâu vùng châu thổ, khác nào dòng sữa mẹ nuôi lớn biết bao người con anh hùng. Có anh hùng nào mà không do mẹ sinh ra. Ngay từ khi chào đời, lời ru của mẹ lắng sâu tâm hồn con từ thuở ấu thơ, bàn tay mẹ nâng đỡ con từng bước đi đầu tiên. Mẹ xòe tay nâng cho con bay bổng vào đời. Nước còn giặc, mẹ không chỉ lau nước mắt tiễn chồng, mẹ còn đưa các con lên đường tiếp bước cha anh giữ lấy nghiệp Vua Hùng trao lại. Những đứa con mẹ dứt ruột đẻ ra, tương lai hạnh phúc của mẹ cứ lần lượt ra đi!
Chiến tranh đã lùi xa mấy mươi năm, mà dư âm của nửa thế kỷ "máu và hoa" còn âm vang bao kỳ tích. Đau thương, mất mát còn trải dài sông núi, len lỏi âm thầm trong mỗi gia đình, quặn buốt nỗi lòng của mẹ. Ở nơi mẹ, vừa tỏa sáng niềm vinh quang chiến thắng, vừa lắng đọng nỗi buồn đau thiếu vắng khôn nguôi.
Ở xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn có mẹ Dương Thị Kín - mẹ của hai liệt sĩ Dương Văn Khích, Dương Văn Đẩy. Thời chống Pháp, gia đình mẹ là một cơ sở cách mạng kiên trung, mẹ vừa tham gia du kích địa phương vừa tần tảo nuôi con. Mẹ kể: Năm 1966, khi quân Mỹ ào ạt đổ quân xâm lược nước ta, người con cả là anh Dương Văn Khích lên đường ra trận. Tiễn anh đi mẹ chỉ dặn: "Làm trai cho đáng lên trai". Tại chiến trường miền Trung, anh đã hy sinh anh dũng trong trận đầu đánh Mỹ. Nhận tin anh Khích hy sinh, người con thứ anh Dương Văn Đẩy, xin mẹ ra trận để "đền nợ nước, trả thù nhà". Lãnh đạo địa phương khuyên mẹ: "Anh đã hy sinh rồi mẹ để em ở lại". Mẹ bảo: "Chí làm trai mẹ chẳng nỡ ngăn". Thế là lần thứ hai mẹ gạt nước mắt tiễn biệt con đi. Anh cũng ra đi mãi mãi không về, để lại mình mẹ nơi quê nhà.
Ở xã Tầm Xá, huyện Đông Anh có mẹ Lê Thị Miên. Tấm lưng còng của mẹ đã gánh trọn nỗi đau của ba cuộc chiến: chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ biên cương. Thời chống Pháp, mẹ đã mất đi nửa cuộc đời, khi ông Hoàng Hữu Hạ, người bạn đời thủy chung son sắt, sớm chiều lam lũ, tay cuốc tay cày hy sinh trong một trận chống càn. Ông mất đi để mình mẹ một nắng hai sương nuôi đàn con thơ dại. Năm 1967, cả nước chìm trong bom đạn Mỹ. Con cả Hoàng Hữu Chắt rời trường y lên đường đánh Mỹ, sau đó Hoàng Hữu Chuyên, Hoàng Hữu Chức tiếp bước anh lần lượt tình nguyện lên đường. Ngày đại thắng 30-4, cả nước hân hoan mừng non sông về một dải. Còn mẹ đau đớn xót xa, dồn dập hai lần nhận giấy báo tử. Hai con của mẹ đã hóa thân mình cho màu xanh của đất nước, rồi vài năm sau người con trai cuối cùng của mẹ, anh Hoàng Hữu Chức lại hy sinh trong trận đánh khốc liệt bảo vệ biên giới tây nam.
Ở phường Hội Xá, quận Long Biên có mẹ Nguyễn Thị Nghị đã cống hiến trọn vẹn ba mảnh đời cho cuộc trường chinh thống nhất non sông. Năm 1965, anh Nguyễn Văn Mạc lên đường Nam tiến. Năm 1967, khi quân Mỹ tràn ngập miền Nam, Hà Nội chìm trong bom đạn, con trai thứ hai của mẹ, anh Nguyễn Văn Tính cùng hàng vạn thanh niên Thủ đô "ba sẵn sàng", "xẻ dọc Trường Sơn" đi cứu nước. Cả hai anh đều anh dũng hy sinh trên tuyến đầu diệt Mỹ. Năm 1971, vừa tốt nghiệp cấp 3 Trường Nguyễn Gia Thiều anh Nguyễn Văn Phúc con trai cuối cùng của mẹ nhất quyết tình nguyện lên đường. Mùa hè đỏ lửa 1972, nơi Thành cổ Quảng Trị, trong 81 ngày bom đạn khốc liệt, anh đã cùng đồng đội "sống bám chốt giữ thành - chết kiên cường dũng cảm"… Và máu xương anh đã vĩnh viễn hòa vào miền cát trắng anh hùng.
Xã Quảng Tiến, huyện Sóc Sơn có mẹ Nguyễn Thị Chanh đã cống hiến cho đất nước cả ba người con yêu dấu, đó là các liệt sĩ Nguyễn Ngọc Lưu, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Văn Thích. Các con của mẹ cứ lần lượt ra đi, hy sinh nơi chiến trường khốc liệt. Ngày thống nhất, mẹ mong ngóng mãi mà chẳng thấy đứa con nào về. Về xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, quê ngoại công chúa Lê Ngọc Hân, có mẹ Đào Thị Thẩn. Khi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lan rộng tới miền Bắc, anh Nguyễn Thế Lợi người con duy nhất của mẹ đã tình nguyện vào quân ngũ. Tiễn con đi một năm sau thì chồng mẹ mất. Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, mẹ không sao ngủ được, cứ mong ngóng mãi mà chẳng thấy con về. Rồi khi nhận được giấy báo tử, mẹ chết đi sống lại chẳng biết bao lần. Mẹ kể: Những năm tháng cuối đời, mẹ dồn hết tình yêu thương giúp đỡ trẻ mồ côi, tàn tật, "thương người như thể thương thân"!
Tiến sĩ Steve Maxner, Giám đốc Trung tâm Việt Nam Trường Đại học Texas đã cảm động chia sẻ: Một trong những lý do khiến tôi làm việc tại nơi đây là được gặp gỡ những người dân Việt Nam, người dân Hà Nội. Thời gian gần đây, tôi đã hiểu rõ hơn về sự hy sinh của những người phụ nữ Việt Nam cho đất nước. Tôi cũng đã hiểu sự chịu đựng, hy sinh của những người phụ nữ Hà Nội trong chiến tranh, trong thời gian Hà Nội bị đánh bom. Tuy nhiên, đó cũng là minh chứng cho sự kiên cường cũng như tình yêu của họ đối với Tổ quốc. Trong khi đi dọc Việt Nam, còn một điều nữa mà tôi có thể nhận thấy rất nhanh là vai trò của chính phủ trong việc ghi nhận công lao của người phụ nữ, đặc biệt là công lao của phụ nữ trong chiến tranh. Trong tất cả các tượng đài kỷ niệm chiến tranh, chúng ta đều nhìn thấy hình ảnh của người phụ nữ. Không phải là hình ảnh của người đàn ông mà là hình ảnh của người phụ nữ trong tất cả mọi cuộc chiến, trong tất cả các lĩnh vực phục vụ cho chiến đấu. Điều này hoàn toàn khác với ở Mỹ khi người phụ nữ không được vinh danh với vai trò nổi bật trong chiến tranh.
Xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh có mẹ Nguyễn Thị Lớn. Thời đánh Pháp, gia đình mẹ là cơ sở cách mạng, năm 1952 chồng mẹ đã qua đời khi mẹ còn rất trẻ. Mẹ ở vậy thờ chồng, nuôi con thơ, hăng hái việc làng, việc hội...
Là một đảng viên gương mẫu, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã tận tâm, mẹ đã cùng các hội viên thi đua thực hiện phong trào "Phụ nữ 3 đảm đang", "Cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Đội sản xuất của mẹ luôn là lá cờ đầu của huyện và thành phố. Năm 1965, mẹ đi dự Hội nghị Phụ nữ ba đảm đang chống Mỹ cứu nước toàn quốc lần thứ nhất, được gặp Bác Hồ và nhận Huy hiệu của Người. Năm 1970, con trai duy nhất của mẹ, anh Lê Đình Quế sinh viên Trường Đại học Thủy sản, đã viết đơn tình nguyện lên đường đánh Mỹ. Năm 1972, được tin đứa con duy nhất đã anh dũng hy sinh; đau đớn xót xa, nhưng mẹ gắng gượng lao vào việc làng, việc hội, tay cày, tay súng. Năm 1972, mẹ lại dự Đại hội Phụ nữ ba đảm đang chống Mỹ cứu nước, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập, Huân chương Chiến công hạng Ba. Để bớt nỗi cô đơn, mẹ đã nhận một người con nuôi, đến nay con cháu đã trưởng thành, gia đình đầm ấm.
Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, bốn người ruột thịt của mẹ Thái Thị Thịnh (ở phường Mai Động, quận Hoàng Mai) lần lượt hy sinh. Chồng mẹ, ông Chu Hữu Tính vốn là thầy giáo Trường Y đã chiến đấu anh dũng và hy sinh ngay trong đêm đầu nổ súng, quyết tử bảo vệ Thủ đô mùa đông năm 1946. Các con của mẹ cứ đủ tuổi là lên đường ra trận. Năm 1954, cả Hà Nội hân hoan đón chào đoàn quân chiến thắng trở về thì mẹ đau đớn xót xa khi liên tiếp hai lần nhận giấy báo tang: Con cả Chu Hữu Lâm, chiến sĩ Đại đoàn Quân tiên phong (Sư đoàn 308) đã gửi thân ở lại đất Điện Biên. Con thứ hai, anh Chu Hữu Khang cũng là lính Đại đoàn Quân tiên phong, đã hy sinh anh dũng trong trận đánh ở Lục Ngạn để mở đường giải phóng Thủ đô. Năm 1975, lần thứ ba mẹ nhận giấy báo tử. Con thứ ba của mẹ, anh Chu Hữu Lương đã hy sinh trên chiến trường đánh Mỹ, vĩnh viễn nằm lại bên bờ sông Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Giữa phố cổ Thủ đô, tại ngôi nhà 27 Hàng Đường có mẹ Nguyễn Thị Hợi, mẹ của liệt sĩ Dương Trung Hậu. Mùa đông năm 1946, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Hà Nội. Cả Hà Nội bừng lên ngọn lửa "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh". Ông Dương Trung Hậu con trai duy nhất của mẹ đã tình nguyện vào đội quân cảm tử bên cầu Long Biên. Với vũ khí tự mua, ông cùng đồng đội kiên cường chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Ngày 31-12-1946, máu của ông và đồng đội đã nhuộm đỏ chiến hào. Đồng bào đã phủ lên thi hài ông lá cờ Tổ quốc, tổ chức truy điệu và an táng ngay tại phố Thanh Hà.
Mẹ Vũ Thị Duyệt ở thôn Xuân Tảo, xã Xuân Giang, huyện Sóc Sơn có ba con là liệt sĩ. Năm 1957 anh Đỗ Bá Chủ con cả của mẹ lên đường nhập ngũ. Năm 1966, khi máy bay Mỹ ném bom bắn phá Hà Nội, anh tái ngũ vào chiến trường. Anh là người con duy nhất trở về với mẹ. Người con thứ hai là anh Đỗ Bá Chú nhập ngũ năm 1960, con thứ ba anh Đỗ Bá Tý nhập ngũ năm 1967 và con út Đỗ Bá Tư lên đường chiến đấu đúng dịp Tết Mậu Thân 1968. Rồi ba người con thứ lần lượt ngã xuống tại các chiến trường ác liệt. Mất đi ba đứa con yêu dấu, lòng mẹ đau đớn khôn cùng. Mấy chục năm trời mẹ vẫn trông ngóng lên con đê đầu làng, hy vọng trông thấy bóng hình những đứa con thân yêu...
Ở quận Hai Bà Trưng có một câu chuyện cảm động về mẹ Trần Thị Kim, mẹ của liệt sĩ Phạm Bá Vinh. Thời con gái là hoa khôi của làng, mẹ lập gia đình với ông Phạm Bá Thể. Khi đứa con trai mới chào đời, cùng lúc mẹ nhận tin chồng bị ốm chết trên đường kiếm sống. Mẹ ôm đứa con thơ phiêu bạt lên Hòa Bình kiếm kế sinh nhai. Năm 1966, vừa tròn 18 tuổi, anh Vinh làm đơn tình nguyện lên đường đánh Mỹ. Từ đó anh đi biền biệt. Sau ngày đất nước thống nhất, mẹ đau đớn nhận giấy báo tử con mình. Cuộc sống ngày càng khó khăn, đơn côi nơi núi rừng heo hút. Cho đến ngày anh Nguyễn Bá Ngọc, một chiến sĩ công an, thương binh hạng 1/4, đón mẹ về Hà Nội phụng dưỡng. Vợ chồng anh đã hết lòng chăm sóc mẹ như mẹ đẻ của mình. Hạnh phúc chẳng được bao lâu thì tai họa lại giáng xuống khi anh Ngọc hy sinh trong trận phá án đêm giao thừa năm 1983. Mẹ lần thứ hai lâm cảnh mất con. Ngôi nhà chỉ còn lại hai người phụ nữ cô đơn. Vợ anh Ngọc - một phụ nữ thảo hiền, tần tảo làm đủ mọi việc để mưu sinh nhưng vẫn hết lòng phụng dưỡng mẹ.
Xã Mễ Trì huyện Từ Liêm có mẹ Đinh Thị Mơ - mẹ của liệt sĩ Vũ Hồng Sơn. Bố mẹ và chồng của mẹ đều chết trong nạn đói năm 1945. Anh Sơn lớn lên trong muôn vàn tình yêu thương của mẹ. Năm 1967, vừa lập gia đình được 3 tháng thì anh xung phong vào quân ngũ. Tháng 2-1968, anh hy sinh ở mặt trận phía Nam, để lại mẹ già và người vợ trẻ. Ngôi nhà đơn sơ in bóng hai phụ nữ, hai nhân cách lớn về lòng trung hậu, đảm đang.
"Tôi nguyện là lá xanh trong rừng xanh của Đảng/Là chiến binh gang thép của nhân dân" - Đó là lời thề son sắt với Tổ quốc của chàng trai xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, liệt sĩ Nguyễn Văn Truyền, người con trai duy nhất của mẹ Nguyễn Thị Trực. Những lá thư, những dòng nhật ký cháy bỏng tình yêu quê hương đất nước, da diết thương nhớ cha mẹ của con trai gửi từ chiến trường được mẹ giữ gìn cẩn thận. Mẹ bảo đó là của gia bảo để con cháu sau này noi theo. Thời còn trẻ mẹ Trực đã có tiếng là người phụ nữ hiền thục, nết na, chịu thương chịu khó. Gia đình mẹ là một trong những cơ sở bí mật thời tiền khởi nghĩa. Tháng 9-1945, vợ chồng mẹ đã đứng hàng đầu trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Tháng 10-1954, Hà Nội sạch bóng quân thù, gia đình mẹ được vinh danh là "Gia đình có công với cách mạng". Ít lâu sau chồng mẹ đã qua đời. Năm 1967, máy bay Mỹ bắn phá quê hương. Con trai mẹ một mực xung phong lên đường ra trận. Trước lúc anh nhập ngũ, mẹ chỉ dặn: "Sao cho xứng là trai làng Gióng". Trong "12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không" năm 1972, máu anh đã đổ xuống để bảo vệ đất Thăng Long - Hà Nội. Nhìn bóng mẹ thẫn thờ trong chiều hôm, thương nhớ con trong kí ức, chúng tôi không sao cầm nổi nước mắt.
Chúng tôi muốn đi nữa, muốn gặp và viết nhiều hơn nữa về các Mẹ Việt Nam Anh hùng, bởi như câu hát "mẹ già như chuối chín cây", lễ kỷ niệm năm nay còn có mẹ, nhưng đến năm sau thì sẽ ra sao? Những tưởng cuộc đời chẳng có gì bất biến, nhưng giờ đây, chúng tôi tin chắc chắn rằng tấm gương của các Mẹ Việt Nam Anh hùng của Thủ đô Hà Nội nói riêng và của các Mẹ Việt Nam Anh hùng trong cả nước sẽ mãi mãi tỏa sáng cùng sự trường tồn của dân tộc.
Phạm Quốc Bản - HNMO