Tổng đài: 0243 8356 700 | Email: hanoitv.online@gmail.com

Lý Nhân Tông – vị vua tuổi Ngọ xuất sắc nhất triều Lý
14/02/2014 07:01
(HanoiTV) - Là vị vua thứ tư của triều Lý, vua Lý Nhân Tông (tên húy Lý Càn Đức) được nhân dan nhận xét là vị vua có nhiều kỉ lục nhất trong số các đời vua của triều đại phong kiến Việt Nam: vị vua tại vị lâu nhất; vị vua đầu tiên đặt nền móng cho giáo dục Đại học Việt Nam; vị vua có nhiều niên hiệu nhất (8 niên hiệu) trong đó có niên hiệu Hội Tường Đại Khánh được dùng lâu nhất là 10 năm.

 

Lý Càn Đức là con trưởng của vua Lý Thánh Tông và Nguyên Phi Ỷ Lan. Ông sinh năm Bính Ngọ (1066) và mất năm Nhâm Tý (1072). Trong suốt 56 năm vua Lý Nhân Tông trị vì là thời kì đất nước thái bình thịnh trị vào bậc nhất trong triều Lý và cũng là của lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Lý Nhân Tông lên ngôi khi mới 7 tuổi, vì thế phải nhờ đến Nguyên phi Ỷ Lan, Thái sư Lý Đạo Thành, Phụ quốc thái úy Lý Thường Kiệt phò tá – những nhân vật lịch sử tên tuổi không chỉ của triều Lý mà cả trong lịch sử Việt Nam nên nước Đại Việt lúc đó ngày càng trở nên hùng mạnh.

Người mở đầu cho nền giáo dục Đại học ở Việt Nam

Là người chú trọng về văn hóa, giáo dục, năm 1075, vua Lý Nhân Tông cho thi khoa Minh Kinh bác học hay còn gọi là khoa thi Tam trường đầu tiên trong lịch sử. Khoa thi đó lấy đỗ 10 người, có thủ khoa Lê Văn Thịnh là trạng nguyên đầu tiên của lịch sử khoa bảng nước nhà. Đến năm sau (1076) lại cho xây Văn Miếu Quốc Tử Giám để thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền của Nho giáo và là nơi dạy học ở bậc cao dành cho thái tử và những người tài giỏi của đất nước. Văn Miếu Quốc Tử Giám từ đó trở thành trường Đại học đầu tiên của nước ta.

Vị vua anh minh giỏi việc quan chế

Để tổ chức lại guồng máy nhà nước, cải tiến triều đại, năm Kỷ Tỵ (1089) vua định quan chế, chia văn võ ra làm 9 bậc, quan đại thần thì có Thái sư, Thái phó, Thái úy và Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu úy. Dưới các bậc ấy, bên văn có Thượng thư, Tả Hữu Tham tri, Tả Hữu Giám nghị đại phu, Trung thư Thị Lang, Bộ Thị Lang v.v... Bên võ thì có Đô thống, Nguyên súy, Tổng quản khu mật sứ, khu mật Tả Hữu sứ, Kim Ngô thượng tướng, Chư vệ tướng quan v.v... Ở ngoài, các Châu, Quận, văn thì có Tri phủ, Phán phủ, Tri Châu. Võ thì có Chư lộ, Trấn trại quan. Về quốc phòng thì ủy thác cho hai danh tướng Lý Thường Kiệt và Tôn Đản huy động mọi lực lượng quân sự, ứng chiến đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Với tư tưởng “ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân đi đánh trước để chẹn mũi nhọn của giặc”, năm 1075, ngay khi nhà Tống đang tập kết lực lượng ở Ung Châu chuẩn bị tiến sang, Lý Thường Kiệt chủ động mang quân đánh sang đất Tống trước. Đầu năm 1076, quân Lý hạ thành Ung Châu. Năm Bính Thìn (1076), nhà Tống lại cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại binh sang xâm lược Đại Việt. Quân đội nhà Lý vẫn dưới sự chỉ huy của Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt một lần nữa đánh bại đội quân nhà Tống tại trận tuyến trên sông Như Nguyệt. Năm 1077, Quách Quỳ chấp nhận cho Đại Việt giảng hòa và rút quân trở về.

Vị vua thân dân

Lý Nhân Tông rất thích tổ chức hội hè, vừa để biểu dương công đức Phật, theo khuynh hướng tôn giáo lúc bấy giờ của dân chúng, vừa để gây không khí vui chơi vào dịp đất nước được an bình thịnh trị. Dưới triều đại của ông, hội đua thuyền, hội hoa đăng liên tiếp được tổ chức. Lý Nhân Tông nổi bật về đức độ thương dân, gần dân, chăm lo nâng đỡ người nghèo khổ, kẻ thân phận tôi đòi, người già nua, góa bụa. Ông đi thăm và khuyến hóa nông dân chăm sóc việc đồng áng, xem dân cày cấy, gặt mùa, chỉ bảo ngư dân đánh cá, khuyên dân ra sức đắp đê chống lũ lụt, nổi tiếng nhất là đê Cơ Xá, khởi đầu cho việc đắp đê ngăn lũ ở Việt Nam; động viên cổ vũ các nghề thủ công như nghề giầy, nghề sơn, kiến trúc và điêu khắc, đóng thuyền, nung gạch ngói. Kinh tế nông nghiệp dưới thời vua Lý Nhân Tông có những bước phát triển rất khả quan.

Lý Nhân Tông cũng là người rất hâm mộ Phật pháp khi về tận núi Chương Sơn ở huyện Ý Yên (Nam Định) khánh thành bảo tháp Vạn Phong Thành Thiên, về Đội Sơn (ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) khánh thành bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh. Với ánh sáng trí tuệ, ông rất quý trọng sự tham vấn, nghiên cứu về tinh hoa Phật học cùng các vị cố vấn, quốc sư như ngài Thông Biện, Từ Đạo Hạnh, Minh Không. Đặc biệt với Thiền sư Mãn Giác (tục danh Nguyễn Trường -1052-1096) được vua ban hiệu Hoài Tín, vì lòng mến sư là người học rộng hiểu nhiều. Vua và Hoàng thái hậu dựng chùa Giác Nguyên bên cạnh cung Cảnh Hưng, rồi cung thỉnh Sư về trụ trì để tiện việc tới lui học hỏi và luận đạo. Đến khi Sư viên tịch, vua kính lễ rất hậu, sau này làm lễ hỏa táng, thu xá lợi của Sư, xây tháp thờ tại chùa Sùng Nghiêm (làng An Cách), rồi ban thụy là Mãn Giác. Thời kì này được đánh giá là giai đoạn thịnh đạt của Phật giáo ở nước ta, có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội, in rõ dấu ấn trong mọi lĩnh vực văn hóa, sắc thái Phật giáo gắn bó với thuần phong mĩ tục của dân tộc ta.

Vị vua văn võ song toàn

Không chỉ giỏi việc quan trường, Lý Nhân Tông cũng tỏ ra là một người am hiểu và rất thích nghệ thuật. Theo sách “Đại Việt sử lược” thì những bài ca, khúc nhạc mà nhạc công tập luyện đều do vua Lý Nhân Tông sáng tác bởi ông biết thừa hưởng cái gia tài văn hóa văn minh Thăng Long - Đại Việt phong phú, độc đáo do ông cha ta xây đắp. Tác phẩm của vua Lý Nhân Tông hiện còn ba bài thơ tứ tuyệt gồm “Truy tán Vạn Hạnh Thiền sư”, “Tán Giác Hải Thiền sư, Thông Huyền Đạo nhân”, “Truy tán Sùng Phạm Thiền sư” cùng một vài bức thư gửi triều đình nhà Tống, các bài hịch và chiếu.

Tiếp nối sự nghiệp xây dựng khởi đầu của các vua Lý, đời vua thứ 4 Nhân Tông đã có sự phát triển toàn diện của quốc gia phong kiến độc lập thời đại bấy giờ, nhất là trong khoảng thế kỉ XI, công việc xây dựng đất nước bắt đầu và quy mô lớn. Năm Đinh Mùi vào tháng Chạp Âm lịch (31/1/1128), vua Lý Nhân Tông mất, thọ 62 tuổi. Vốn là người sống khiêm nhường nên khi biết mình sắp mất, ông đã có lời di chúc “Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên vui, làm sao khi chết đi lại để cho nhân dân mình mặc sơ gai, sớm tối khóc than, giảm ăn uống, tuyệt cúng tế, làm cho lỗi ta nặng thêm, thì thiên hạ bảo ta là người thế nào? Việc tang thì sau 3 ngày bỏ áo trở nên thôi thương tiếc. Việc an táng cần phải tiết kiệm, không xây lăng mộ riêng, nên chôn ngay bên cạnh Tiên đế”.

Nói về Lý Nhân Tông, sách Đại Việt sử kí thư viết: “Lý Nhân Tông cũng là một vị vua khổ luyện, phấn đấu đạt đến độ học thức cao minh, hiểu sao đạo lý”. Chính vì thế, đánh giá tổng quát về ông, các sử gia từ Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên đến Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn.. đều gọi ông là “vị anh quân của vương triều Lý”.

Lan Phương

 

 

Từ khóa: hanoitvdai truyen hinh ha noiđài truyền hình hà nộidai truyen hinhdai phat thanhphat thanhtruyen hinhhanoitelevisionradiophát thanhtruyền hìnhhà nộitvHanoi television