Tổng đài: 0243 8356 700 | Email: [email protected]

Đồng tính - không chỉ là chuyện của người trong và ngoài cuộc
16/08/2022 16:05
(HanoiTV) - Ngoài việc chấp nhận một cộng đồng văn hóa có nhiều khác biệt thì còn rất nhiều việc cần phải làm từ nhiều phía để giúp mọi người hiểu đúng về cộng đồng LGBTQI+, tránh những hành vi thù địch hay kỳ thị.

Câu chuyện về những người đồng tính đã được ghi lại trong tư liệu lịch sử từ thời xa xưa, với những người nổi tiếng. Nữ thi sĩ Hy Lạp thời cổ đại Sappho (630 - 570 trước công nguyên) được xem là người đầu tiên công khai bản thân là người đồng tính nữ. Chính thuật ngữ “lesbian” được xem là bắt nguồn từ tên hòn đảo Lesbos, nơi Sappho sinh sống với những bạn tình nữ.

Có thể kể đến Alexande Đại đế (356 - 324 trước công nguyên) với người bạn thân Hephaestion được nhiều sử gia cổ đại và hiện đại xem là người tình đồng tính của Alexandre Đại đế. Tất nhiên là câu chuyện cho đến nay vẫn còn những tranh cãi không có hồi kết, bởi cả hai chàng trai đều có vợ con. Cả hai là bạn từ thuở thơ ấu và lớn lên cùng với nhau, cùng thực hiện những cuộc chinh phạt. Tuy nhiên qua những gì mà nhà sử học Hy Lạp cổ đại Plutarch viết bởi vì ông là người sống gần nhất với thời đại của Alexandre Đại đế thì có thể thấy mối quan hệ này có thể được xem là đồng tính.

Một tác phẩm nổi tiếng là Symposium (Hội luận) của Platon, nhà triết học Hy Lạp cổ đại có nội dung thuật lại cuộc trò chuyện về tình yêu của sáu nhà triết học. Trong đó, Aristophanes đã thuyết giảng về khái niệm Eros (tình yêu) rằng, thuở khai thiên lập địa, con người là một thực thể kép với hai cơ thể, bốn tay, bốn chân, hai cơ quan sinh dục nam và nữ. Nhưng vì thói ngạo mạn, coi trời bằng vung của con người nên thần Zeus là vị thần tối cao ngự trị trên đỉnh núi Olympus đã quyết định chia đôi thực thế ấy ra và kể từ đó con người đau đáu đi tìm một nửa thất lạc của mình.

Như vậy, người Hy Lạp thời xưa quan niệm tình yêu như sự tạo ghép hoàn hảo, duy nhất, vừa khít, mang tính định mệnh, do tạo hóa sắp đặt giữa hai hai cá thể. Tuy nhiên, vì là chia đôi thực thể nên có ba giống thuộc ba giới tính. Khi nửa nọ đi tìm nửa kia của mình, nếu là nửa nam nọ đi tìm nửa nam kia của mình, thì sẽ có tình yêu của những người đồng tính nam, tương tự với nữ thì sẽ có tình yêu đồng tính nữ, và giống còn lại sẽ tạo nên tình yêu khác giới giữa nam và nữ. Ba loại tình yêu này cùng tồn tại như là bản tính tự nhiên của con người. Đó là một truyền thuyết lãng mạn để giải thích về sự đồng tính.

Còn ngày nay đồng tính được xác định là một kiểu người nằm trong cộng đồng LGBTQI+ (lesbian - đồng tính luyến ái nữ, gay - đồng tính luyến ái nam, bisexual - song tính luyến ái, nghĩa là có thể quan hệ với cả nam và nữ, queer - có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác biệt, hoặc không nhận định bản thân theo bản dạng nào hoặc Questioning - đang ở giai đoạn tìm hiểu bản thân, transgender - chuyển giới, intersex - có bộ phận sinh dục lưỡng tính và dấu + đại điện cho sự tồn tại đa dạng các nhóm khác trong cộng đồng).

Đã gần ba ngàn năm trôi qua từ khi có những ghi nhận đầu tiên về người đồng tính, các ngành khoa học như y học, sinh học, tâm lý học, nhân học, xã hội học… đã có những nghiên cứu cụ thể và xác đáng để làm cơ sở cho việc Liên Hiệp Quốc công bố LGBTQI+ không phải là một bệnh tâm thần, và cộng đồng này chính thức được thừa nhận vào ngày 15/07/1990.

Trước đó, từ năm 1973, Hiệp hội Tâm thần học Mỹ đã không còn xem đồng tính luyến ái là một bệnh tâm thần nữa. Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài trong lịch sử thì người đồng tính nói chung thường bị kỳ thị, bị xem là mắc bệnh tâm thần và có những ngăn cấm, đe dọa, chữa chạy y tế để tránh hay loại bỏ cái gọi là “căn bệnh đồng tính”. Từ đó những người đồng tính thường có khuynh hướng giấu giếm giới tính luyến ái thật của mình để tránh sự kỳ thị hay phiền phức.

Nhưng ở thời đương đại, khi mà tư duy con người cởi mở hơn với những kiến thức khoa học được phổ cập hơn, thì ở nhiều quốc gia, sự công khai, cởi mở giới tính hay cho phép kết hôn đồng tính cũng đang trở nên phổ biến. Ở Việt Nam, tuy theo Hiến pháp năm 1992 không đề cập đến vấn đề quyền của cộng đồng này, song cũng không có văn bản nào thể hiện sự cấm đoán.

Chính vì vậy, cùng với xu hướng của thế giới, thái độ của xã hội Việt Nam cũng cởi mở và chấp nhận sự khác biệt này nhiều hơn, nhất là khi có nhiều người nổi tiếng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật công khai mình là người đồng tính.

Nhưng không phải mọi việc đều diễn ra theo xu hướng bình thường, tích cực, mà thực tế trong xã hội Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều định kiến sai lầm, nhiều sự khắt khe không đáng có.

Biểu trưng cho cộng đồng LGBTQI+ là lá cờ lục sắc với màu đỏ tượng trưng cho sự dũng cảm, màu cam tượng trưng cho nhận thức và các khả năng, màu vàng tượng trưng cho sự thách thức với những khó khăn, màu xanh lá cây thể hiện sự khích lệ, phấn đấu, màu xanh dương là hy vọng, chia sẻ và giúp đỡ, màu tím tượng trưng cho sự thống nhất, hòa hợp, đoàn kết. Nhưng từ thực tế cuộc sống, tôi đã bắt gặp nhiều mảnh đời cũng đa sắc màu, chìm nổi, lận đận, đớn đau chỉ vì bản thân mình là người đồng tính.

Tôi là một người có dịp tiếp xúc với nhiều người đồng tính trẻ. Do môi trường của tôi là dạy học trong một số ngành khoa học xã hội và làm việc trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, mà người ta thường hay có định kiến đó là môi trường dễ xuất hiện người đồng tính và thực tế cũng có một phần đúng như vậy.

Có ba câu chuyện về ba mảnh đời đồng tính mà tôi muốn nói đến, bởi lẽ ba mảnh đời có những vết thương, những nỗi đau, và cũng có cả những hạnh phúc.

2.1 Khi người đồng tính nam phải đi lấy vợ

T là một nhà thơ nam trẻ tuổi xuất thân từ một gia đình nông dân ở một tỉnh lẻ miền Trung. Tài thơ của T được ghi nhận qua một vài giải thưởng về thơ ca. Nhưng T cũng có ý thức về giới tính thật sự của mình từ khá sớm và đã mạnh dạn bày tỏ với gia đình.

Câu chuyện sẽ chỉ dừng ở đấy bởi vì gia đình T sau những bàng hoàng, những thất vọng đã chấp nhận chuyện của T như là số phận. Nhưng không, cha mẹ của T tuy chấp nhận khuynh hướng giới tính của con, đồng thời vẫn đưa ra yêu cầu: con phải lấy vợ, sinh con và sau đó thì con mới có quyền sống cho bản thân vì T là con trai duy nhất trong nhà.

Là người con hiếu thuận, T chấp nhận lấy một người vợ sau một thời gian quen biết tìm hiểu. Tuy nhiên, T không thể quan hệ tình dục với người vợ của mình. Tất nhiên là cô vợ trẻ cũng không hay biết gì về giới tính thật của chồng mình. Trước sự thúc ép của gia đình và sự thất vọng, mong chờ của người vợ, T tìm cách giải quyết vấn đề bằng cách tìm đến một cơ sở chữa bệnh của một người tự xưng là bác sĩ tâm thần với lời hứa sẽ chữa khỏi căn bệnh đồng tính.

Đến nay đã hai năm trôi qua, T vẫn mắc kẹt không lối thoát trong cuộc hôn nhân với sự trách móc từ cả phía vợ và cha mẹ, cùng với một số tiền lớn tiêu phí cho việc chữa chạy mà không hề có hiệu quả.

2.2 Nếu chúng ta đồng tính và làm giáo viên

Trong xã hội Việt Nam hiện nay vẫn có những quan niệm rằng ở một số ngành nghề, không thể biểu hiện công khai sự đồng tính, thậm chí phải giấu giếm, chẳng hạn như trong quân ngũ, trong ngành sư phạm… vì cho rằng sẽ có tác động xấu đến mọi người xung quanh, đặc biệt là trong ngành sư phạm vì còn có học trò.

Tôi có một nam học trò cũ đã dạy học nhiều năm. Em ấy bây giờ cũng được coi là một lãnh đạo trẻ, có triển vọng của ngành giáo dục và người yêu em ấy cũng là một thầy giáo nam. Trước đây khi còn đi học, em che giấu giới tính thật với tôi, nhưng sau một lần thấy tôi mặc áo lục sắc và biểu thị thái độ ủng hộ cộng đồng LGBTQI+, em đã cởi mở hơn và từ đó nhiều lần rủ tôi đi chơi cùng với người yêu của em ấy.

Em rất thẳng thắn nói với tôi rằng: “Em rủ cô đi chơi với hai chúng em vì quý mến cô, nhưng cũng một phần vì có cô đi cùng, chúng em đi ra nơi công cộng cũng bớt phần e ngại, coi như là đi chơi chung với cô. Chúng em rất sợ gặp phụ huynh hay học trò của chúng em. Họ sẽ nhìn vào, đánh giá và lên án, đó là chưa kể sợ ảnh hưởng xấu đến con cái họ. Với nghề giáo viên, cái nhìn về đồng tính còn khắt khe nên đến giờ chúng em vẫn phải che giấu”.

Tôi rất thông cảm với hai em và cũng thường xuyên đi chơi cùng, nghe hai em tâm sự, nhưng cuộc đời đâu có thể che giấu được tất cả mọi điều như mình mong muốn, nhất là che giấu khuynh hướng giới tính. Cách đây vài tháng tôi nhận được một cuộc điện thoại cầu cứu trong nước mắt của một em gái cũng là sinh viên cũ.

Em vừa khóc vừa kể rằng ngày xưa học phổ thông, em đã đem lòng yêu cô giáo dạy văn của mình và quyết tâm theo học ngành Sư phạm Văn, sau đó xin về trường cũ cùng dạy học với cô giáo. Thậm chí, em còn theo học thêm nghề dược tá để cùng phụ giúp cô giáo bán thuốc tân dược ở nhà. Sau vài lần thổ lộ tình cảm, em được cô giáo chấp nhận, cho đến một ngày chồng của cô giáo phát hiện ra, làm ầm ĩ, đến trường thưa kiện.

Kết quả là em bị nhà trường buộc nghỉ dạy, bản thân thì bị gia đình xem là nỗi nhục nhã và họ cấp tốc đưa em đi khám bệnh tâm thần. Khi được bác sĩ chẩn đoán là em hoàn toàn bình thường, gia đình không tin vào Tây y và sau đó là chuỗi ngày đưa em đi khám Đông y, bắt uống đủ loại thuốc sắc, thậm chí gọi cả thầy cúng đến nhà cúng bái để trục xuất cái “vong nam” ẩn trong người em, khiến cho em lâm vào mối tình với cô giáo.

Khi gọi điện thoại cho tôi, giọng em hoang mang, run sợ và xin tôi tìm cách kiếm cho em một việc làm ở nơi khác, miễn là thoát khỏi chuỗi ngày khủng khiếp ở với gia đình. Bây giờ thì em đã yên ổn với một công việc mới, một nơi ở mới xa gia đình, nhưng vết thương tinh thần trong lòng em có lẽ còn lâu lắm mới lành lại được bởi hiện tại gia đình đã cắt đứt mọi liên hệ với em.

2.3 Hạnh phúc sau nhiều trắc trở

Khi đi dạy học cách đây mười năm, tôi chứng kiến một cặp đôi sinh viên nam công khai mối tình đồng tính và tỏ ra rất hạnh phúc, khiến cho không ít bạn học ngưỡng mộ.

Qua một lần tâm sự tôi mới biết sự hạnh phúc, thoải mái ấy chỉ thể hiện được khi hai em ở trường. Còn khi quay về với gia đình, hai em vẫn phải đối mặt với sự phản đối, không đồng ý. Một gia đình thì vẫn thường xuyên răn đe, ép buộc, cấm cản để em trở lại là “người bình thường” theo ý của họ, một gia đình thì tìm đến các trung tâm tư vấn tâm lý có quảng cáo sẽ chữa khỏi “căn bệnh đồng tính” để tìm giải pháp cho “căn bệnh” này.

Mười năm sau, một em quay lại tìm gặp tôi để xin hướng dẫn học lên cao hơn. Khi được hỏi thăm về mối tình đồng tính năm ấy, em tươi cười rạng rỡ cho biết: chúng em đã cưới nhau và sống rất vui vẻ. Gia đình hai bên đã chấp nhận sau nhiều năm hai em cố gắng thuyết phục, đưa tài liệu cho đọc, nhờ bác sĩ đến nói chuyện, cùng với việc truyền thông đưa nhiều tin tức về người đồng tính, từ đó hai gia đình có cái nhìn cởi mở hơn, không ngăn cấm nữa.

 

Thực tế cho thấy ở Việt Nam, tuy cái nhìn về đồng tính đã bớt khắt khe và có nhiều hiểu biết hơn, nhưng xã hội và con người Việt Nam nói chung vẫn còn nhiều quan điểm, định kiến sai lệch, từ đó gây ra khá nhiều những tổn thương cho cộng đồng LGBTQI+.

Tất nhiên chúng ta cũng phải nói đến những hoạt động nỗ lực của chính cộng đồng này để giành lấy sự công nhận của xã hội, chẳng hạn như các cuộc thi hoa hậu chuyển giới, nhiều người nổi tiếng trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật lên tiếng khẳng định và công khai mình là người đồng tính, sự xuất hiện phong phú của những tác phẩm văn học nghệ thuật có nội dung nói về người đồng tính, cuộc vận động lấy chữ ký ủng hộ hôn nhân đồng giới... Nhưng có lẽ những điều đó vẫn chưa đủ, bởi lẽ đó mới chỉ là nỗ lực về phía xã hội và cá nhân con người.

Còn chính quyền hiện nay vẫn còn thiếu những luật cụ thể về người đồng tính (luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn không thừa nhận hôn nhân đồng tính), công văn hướng dẫn những vấn đề liên quan đến người đồng tính, cũng như các ngành khoa học như y học, tâm lý học, xã hội học… cũng chưa ra đưa ra những công trình nghiên cứu hay các khuyến nghị cần thiết cho người đồng tính ở Việt Nam.

Công tác tuyên truyền về đồng tính trên các phương tiện truyền thông cũng không chú ý đưa những thông tin khoa học, xác đáng để mọi người có thể học hỏi, mở mang kiến thức, chấp nhận sự tồn tại của một cộng đồng khác biệt, mà chủ yếu tập trung vào việc ca ngợi những cặp đôi đồng tính đình đám một cách hời hợt.

Từ đó mới nảy sinh ra nhiều tệ nạn, tiêu cực như sự kỳ thị, lên án người đồng tính, hay gần đây nhất là phổ biến những quảng cáo, tuyên truyền coi đồng tính là căn bệnh tâm thần và chữa trị được.

Trước tình hình này, gần đây tại Công văn 4132/BYT-PC ngày 03/08/2022 về chấn chỉnh công tác khám bệnh, chữa bệnh đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới, Bộ Y tế đã quán triệt không coi đồng tính, song tính, chuyển giới là bệnh và không can thiệp, ép buộc điều trị với các đối tượng này, chỉ được hỗ trợ về tâm lý do người có hiểu biết về bản dạng giới thực hiện.

Như vậy đã đến lúc chính quyền, xã hội, con người Việt Nam cần có sự nhìn nhận nghiêm túc về hiện tượng đồng tính. Ngoài việc chấp nhận một cộng đồng văn hóa có nhiều khác biệt thì còn rất nhiều việc cần phải làm từ nhiều phía. Chính quyền cần phải có những luật hay những điều chỉnh luật để phù hợp với sự tồn tại công khai của cộng đồng này, kèm theo đó là những thông tư, công văn, giải quyết những vấn đề của cộng đồng LGBQTI+, từ phẫu thuật chuyển giới đến việc hôn nhân, nhận con nuôi…

 

Cùng với đó là sự góp sức của nhiều ban ngành và sự tuyên truyền đúng đắn, xác đáng trên các phương tiện truyền thông để giúp mọi người hiểu đúng về cộng đồng LGBTQI+, tránh những hành vi thù địch hay kỳ thị.

Xu hướng của thời đại ngày nay là chấp nhận và dung hòa sự khác biệt. Cộng đồng LGBTQI+ là một sự khác biệt so với văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam và vẫn có thể bị định kiến trong con mắt của nhiều người.

Nhưng thời đại ngày nay đã khác. Cộng đồng này đã tồn tại như một thực thể và điều duy nhất mà chúng ta có thể làm là giúp cho họ hòa nhập vào đời sống bình thường bằng luật pháp, bằng sự hiểu biết và cách nhìn nhận nhân văn.

Tác giả: Hà Thanh Vân

Đồ họa: Thanh Nga

Từ khóa: người đồng tínhcộng đồng LGBTLGBTQI+lesbianđồng tính namđồng tính nữchuyển giớisự kì thịkết hôn đồng giớiđịnh kiếnchữa đồng tính